Sản Xuất Xuất Khẩu Kinh Doanh Thời Trang Các Hoạt Động Khác
Hội Chợ, Hội Thảo
BÁO CÁO TỔNG KẾT CÔNG TÁC NHIỆM KỲ III (2007-2010) VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG NHIỆM KỲ IV (2011-2015) CỦA HIỆP HỘI DỆT MAY VIỆT NAM
Bao Cao Tong Ket Cong Tac Nhiem Ky Iii 2007 2010 Va Phuong Huong Hoat Dong Nhiem Ky Iv 2011 2015 Cua Hiep Hoi Det May Viet Nam
Bao Cao Tong Ket Cong Tac Nhiem Ky Iii 2007 2010 Va Phuong Huong Hoat Dong Nhiem Ky Iv 2011 2015 Cua Hiep Hoi Det May Viet Nam
Bao Cao Tong Ket Cong Tac Nhiem Ky Iii 2007 2010 Va Phuong Huong Hoat Dong Nhiem Ky Iv 2011 2015 Cua Hiep Hoi Det May Viet Nam
HIỆP HỘI

DỆT MAY VIỆT NAM

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

                 Hà Nội,  ngày  09     tháng  10   năm 2010

                                                                                            

BÁO CÁO TỔNG KẾT CÔNG TÁC NHIỆM KỲ III (2007-2010)

VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG NHIỆM KỲ IV (2011-2015)

CỦA HIỆP HỘI DỆT MAY VIỆT NAM

-----------

BÁO CÁO TÌNH HÌNH NGÀNH DỆT MAY TRONG THỜI GIAN QUA

 I. Đặc điểm tình hình:

   - Sau gần 2 năm chịu tác động nghiêm trọng của khủng hoảng kinh tế thế giới, nền kinh tế của nhiều nước đã bước đầu hồi phục và có những bước phát triển nhất định nhưng chưa vững chắc và còn chứa đựng những bất ổn. Tỷ lệ thất nghiệp cao và thu nhập giảm sút buộc người tiêu dùng phải thay đổi thói quen tiêu dùng, thắt chặt chi tiêu và lựa chọn những sản phẩm giá rẻ hơn,dẫn đến nhập khẩu của EU và đặc biệt là Hoa kỳ giảm sút (Riêng nhập khẩu của Hoa kỳ năm 2009 đã giảm tới 9,81% về số lượng và 14,5% về trị giá).

   - Giá cả nguyên liệu thế giới đã tăng mạnh trong những tháng cuối năm 2009 và năm 2010 (giá bông xơ đạt trên 2,5 USD/kg) do nhu cầu hồi phục trong khi sản lượng bông giảm mạnh do lũ lụt tại Pakistan, Trung quốc và dự trữ bông thế giới ở mức thấp. Trong khi đó, giá thành phẩm chỉ tăng 10-15%, buộc các nhà sản xuất luôn phải tính toán cắt giảm chi phí, tìm các giải pháp tăng năng suất lao động nhằm bù đắp cho mức thu nhập giảm và duy trì sản xuất, giữ khách hàng.

   - Tính đến tháng 8/2010, đầu tư nước ngoài FDI đã chiếm tới 61% kim ngạch xuất khẩu, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong sản xuất, xuất khẩu của ngành. Đầu tư vào lĩnh vực sản xuất sợi cũng tăng khá trong thời gian qua.

   - Thị trường trong nước đã được coi trọng hơn. Được sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ và nỗ lực không mệt mỏi của nhiều doanh nghiệp trong việc thiết kế các sản phẩm mới có chất lượng hơn, thời trang hơn, có thương hiệu, thị trường ngày càng khởi sắc hơn và đã   có nhiều doanh nghiệp khẳng định được chỗ đứng của mình.

   - Biến động lao động và khó tuyển dụng lao động tại các thành phố lớn và khu công nghiệp vẫn là vấn đề nhức nhối đối với các doanh nghiệp, buộc các DN luôn phải quan tâm giải quyết, đào tạo bổ xung, điều chỉnh kế hoạch sản xuất…Nhiều DN đã quan tâm giải quyết tốt việc chuyển dịch sản xuất hàng may mặc về các vùng nông thôn và thị tứ hoặc chuyển sang sản xuất các sản phẩm cao cấp, có giá trị gia tăng cao hoặc áp dụng các công nghệ sản xuất tiên tiến, từ đó xử lý có hiệu quả vấn đề lao động.



II/ Tình hình sản xuất kinh doanh của ngành

1. Thị trường xuất nhập khẩu :

 a/ Xuất khẩu : Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 đạt 7749,7 triệu USD, tăng 32,3% so với 2006. Kim ngạch năm 2008 đạt 9130 triệu USD, tăng 17,8% so với năm 2007.

   - Trong năm 2009, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn do tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế thế giới nhưng nhờ nỗ lực của các DN và sự chỉ đạo, hỗ trợ từ các giải pháp kích cầu của Chính phủ, các DN đã từng bước vượt qua khó khăn, duy trì được sản xuất, giữ được và đảm bảo đời sống, công ăn việc làm cho người lao động, giữ được khách hàng. Kim ngạch xuất khẩu của ngành năm 2009 vẫn đạt 9,065 tỷ USD, chỉ giảm 0,4% so với năm 2008 trong điều kiện giá cả hàng hoá thế giới giảm mạnh (từ 10-15%), cạnh tranh quốc tế tranh giành miếng bánh thị phần tăng lên và chính vì vậy, Việt Nam được coi là 1 trong số ít các nước duy trì được kim ngạch xuất khẩu khá trong năm 2009 (Trong khi xuất khẩu của Trung quốc giảm 9.8%, xuất khẩu của Ấn độ sang Hoa kỳ giảm 9,41%, của Thái lan giảm 26,67%).

   - Trong 10 tháng đầu năm 2010, Việt Nam vẫn duy trì được mức tăng trưởng xuất khẩu cao, đạt kim ngạch 9,166 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ 2009 và đã vượt kim ngạch cả năm 2009.

   - Về thị trường xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2010 :

   + Hoa kỳ : 4.506,2 triệu USD, tăng 22,3%

   + EU :       1.303 triệu USD, tăng 7%

   + Nhật bản   795,2 triệu USD, tăng 14,3%

   + Hàn quốc   261,1 triệu USD, tăng 63,6%

   + Canada      161,8 triệu USD, tăng 21,4%

   + Đài loan    126,1 triệu USD, giảm 22% so với cùng kỳ 2009.

  b/ Về nhập khẩu 9 tháng đầu năm 2010:

   + Bông xơ : 277.000T (+26,9%), trị giá 489tr.USD (+ 78,9%).

   + Xơ sợi    : 407.000T (+12,5%), trị giá 795tr.USD (+ 40,4%).

   + Vải         : 3.864 tr.USD, tăng 26,8%.

   + Nguyên phụ liệu dệt may da : 1.896tr.USD, tăng 38,2% so với cùng kỳ 2009.  

   - Với tiến độ giao hàng như hiện nay, nhập khẩu nguyên phụ liệu tăng và lượng đơn hàng khá dồi dào tại các DN (nhiều DN đã có đủ đơn hàng tới cuối năm, thậm chí quý 1 năm sau), khả năng ngành đạt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu xấp xỉ 11tỷ USD là trong tầm tay trong năm nay, đưa dệt may trở thành ngành có kim ngạch xuất khẩu cao nhất và đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước, duy trì được vị trí top 10 nước xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới. Và như vậy, mặc dù phải trải qua 1 giai đoạn khủng hoảng nghiêm trọng nhưng ngành dệt may vẫn đạt được mục tiêu đề ra trong chiến lược phát triển dệt may trong giai đoạn 2007-2010 là 10-12 tỷ USD vào năm 2010.

2. Phát triển thị trường nội địa :

   - Với dân số 86 triệu người và thu nhập ngày càng tăng lên, mức sống và chi tiêu của người dân đã có sự cải thiện đáng kể. Theo đánh giá, mức tiêu dùng đối với hàng dệt may hiện nay chiếm khoảng 5-6% chi tiêu của người dân và thị trường tiêu dùng dệt may Việt  Nam vào khoảng 3 tỷ USD, tuy còn sự khác biệt đáng kể giữa thành thị và nông thôn. Đây là thị trường hết sức tiềm năng cho các DN trong ngành, đòi hỏi các DN phải quan tâm đúng mức nhằm từng bước chiếm lĩnh, tạo bàn đạp phát triển và đảm bảo sự phát triển cân đối giữa thị trường xuất khẩu và trong nước.

   - Hưởng ứng lời kêu gọi của Bộ Chính trị “ Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” và thực hiện Chiến lược phát triển thị trường nội địa của Bộ Công thương, nhiều DN trong ngành đã có sự đầu tư đáng kể cho thị trường này, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng của năm 2009 như xây dựng và mua thương hiệu, phát triển và nâng cấp hệ thống siêu thị và cửa hàng chuyên doanh, đầu tư phát triển hệ thống thiết kế sản phẩm thời trang, tham gia thi, trình diễn thời trang trong và ngoài nước; tham gia vào chương trình “đưa hàng về nông thôn”, “ DN dệt may đồng hành cùng đồng bào biển đảo của Tổ quốc”. Sự chuyển hướng và đầu tư mạnh mẽ đó đã bước đầu đem lại một diện mạo mới, khởi sắc hơn cho thị trường nội địa. Người tiêu dùng cả thành thị và nông thôn đã tin tưởng vào hàng nội địa. Nhiều DN không những tăng thêm được doanh thu, lợi nhuận, ngoài ra còn thiết lập, mở rộng được mạng lưới tiêu thụ rộng khắp trong cả nước. Có thể kể tên các DN tiêu biểu như May Việt Tiến, May Nhà Bè, May Sông Hồng, May 10, Thái Tuấn, Nino Maxx, An Phước,…Tuy vậy, số DN thực sự quan tâm và thành công tại thị trường trong nước còn chưa nhiều và mới chỉ chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn, thị trường nông thôn rộng lớn còn đang bị bỏ ngỏ. Tình trạng hàng giả, hàng Trung Quốc nhái các thương hiệu nổi tiếng nước ngoài được mua bán qua con đường tiểu ngạch và buôn lậu bày bán khá phổ biến tại các shop thời trang hiện nay, đòi hỏi các DN phải phấn đấu quyết liệt hơn nữa nhằm từng bước chiếm lĩnh được thị trường này. Đồng thời cũng đòi hỏi các cơ quan quản lý như hải quan, quản lý thị trường phải hoạt động hiệu quả hơn nữa để chấn chỉnh và giảm bớt việc này.



3. Tình hình đầu tư và năng lực sản xuất hiện nay :

     Trong những năm qua, các DN đặc biệt là DN cổ phần và FDI đã có sự đầu tư mạnh mẽ vào lĩnh vực sản xuất tơ sợi tổng hợp, sợi cắt ngắn và may mặc để tăng thêm NLSX. Đến nay, NLSX toàn ngành đã có sự tăng trưởng đáng kể:

   - Bông xơ : 10.000 tấn

   - Tơ sợi tổng hợp : 180.000 tấn và đến tháng 8 năm 2011 sẽ đạt khoảng 350.000 tấn, đáp ứng cơ bản nhu cầu xơ PSF cho ngành.

   - Sợi cắt ngắn : 3,7 triệu cọc, sản lượng trên 500.000 tấn/năm

   - Dệt thoi : 1,1 tỷ m2

   - Dệt kim : 150-200.000 tấn

   - In nhuộm hoàn tất : khoảng 800 triệu m2/năm.

   - May mặc : 2,6-2,8 tỷ sản phẩm, trong đó khoảng 70% dành cho xuất khẩu.

     Mặc dù NLSX đã có sự tăng trưởng khá nhưng lĩnh vực dệt vải, in nhuộm hoàn tất vẫn chưa phát triển được như mong muốn do thiếu nhân lực về quản lý, công nghệ phù hợp, chưa có cơ chế đủ sức hấp dẫn thu hút đầu tư nước ngoài vào, dẫn đến việc ngành phải tiếp tục nhập khẩu tới trên 4 tỷ USD vải/năm.



III/ Đặc điểm mới của thị trường dệt may thế giới và Chiến lược phát triển ngành :

   1. Sau khi đạt đỉnh 617 tỷ USD vào năm 2008 ( thương mại hàng may mặc 375,6 tỷ USD, hàng dệt 242 tỷ USD), thị trường dệt may thế giới đã sụt giảm nghiêm trọng trong năm 2009-2010 do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Mặc dù đến nay, nền kinh tế của nhiều nước đã qua khủng hoảng và hồi phục nhưng nhiều yếu tố bất ổn về kinh tế, tài chính, công ăn việc làm vẫn là bóng đen đe doạ nền kinh tế của nhiều nước. Người tiêu dùng vẫn có xu hướng thắt chặt chi tiêu, lựa chọn các loại hàng có giá rẻ hơn. Vì vậy, việc nhập khẩu và tiêu dùng hàng dệt may trong những năm tới sẽ không có sự cải thiện lớn. Người mua đã và đang áp dụng chiến lược mua kép: mua các sản phẩm thời trang hơn từ các nhà cung cấp có khả năng giao hàng linh hoạt, trong khi các sản phẩm cơ bản được mua từ các nước có chi phí thấp nhất. Đa dạng hoá danh sách các nhà cung cấp và xây dựng mối quan hệ thân thiết với 1 số nhà cung cấp nhất định để sẵn sàng thay thế các nhà cung cấp yếu kém, thiếu ổn định nhằm tránh rủi ro. Giảm sự lệ thuộc vào Trung Quốc, đặc biệt là đối với các loại hàng giá rẻ nhằm đối phó với chi phí sản xuất tăng cao tại nước này. Giảm sự trói buộc của nhà cung cấp (quy tắc 30/70: nắm 30% năng lực của nhà máy nhưng không được vượt quá 70%), giảm những mối quan hệ ngắn hạn mà thay vào đó là tập trung xây dựng và phát triển các mối quan hệ chiến lược lâu dài với các nhà cung cấp quan trọng, tham gia các chuỗi cung ứng nhằm hợp lý hoá nguồn cung cấp, giảm chi phí và đảm bảo khả năng đáp ứng nhanh.

     Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững, các nhà sản xuất cần quan tâm đầu tư phát triển hệ thống công nghệ, sản xuất linh hoạt hơn, phát triển năng lực cung ứng cả gói, chú trọng đúng mức đến môi trường, đa dạng hoá người mua, các dòng sản phẩm và thị trường tiêu dùng, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực trung cao cấp nhằm tạo điều kiện hội nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng dệt may thế giới.

   2. Về phía các nước sản xuất và xuất khẩu dệt may : đã có sự phân hoá nhất định. Do chi phí lao động tăng cao, các nước Đông Âu, Bắc Phi (cung cấp cho EU), Mexico, CAFTA (cung cấp cho Hoa kỳ) đã không còn duy trì được thị phần như trước đây. Từ năm 2005-2009, thị phần của Mexico tại Hoa kỳ đã giảm từ 8% xuống còn 5%, Cafta từ 11,8% xuống còn 8,9%. Còn tại EU, thị phần của Rumani giảm từ 3,9% xuống 1,9%, Thổ Nhĩ Kỳ từ 7,6% xuống 6,3%. Các nước Tuynidi, Ma Rốc cũng đều bị giảm. Trong khi đó, thị phần của Trung Quốc trên thế giới trong giai đoạn 2005-2008 tăng từ 26,8% lên 33,2% và hiện nay là xấp xỉ 40%, Bangladesh từ 2,5% lên 3,0%, Việt Nam từ 1,7% lên 2,5%.

   - Khoa học kỹ thuật phát triển rất nhanh. Việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ nano, các loại sợi vải chức năng đặc biệt, các loại nguyên liệu có nguồn gốc thiên nhiên thân thiện với môi trường hứa hẹn nhiều thay đổi trong thời gian tới. Vòng đời sản phẩm ngày càng ngắn lại, 6-8 vòng/năm, thậm chí ngắn hơn. Thương hiệu sản phẩm ngày càng trở nên quan trọng trong chuỗi giá trị gia tăng.

   - Xu thế bảo hộ mậu dịch, áp dụng các rào cản kỹ thuật của các nước nhập khẩu lớn như EU, Hoa kỳ ngày càng tăng. Sau khi chấm dứt cơ chế giám sát hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam trong 2 năm 2007-2008, Hoa kỳ tiếp tục đưa ra các rào cản kỹ thuật mới như Quy định an toàn sản phẩm đối với sản phẩm may mặc nhập khẩu vào Hoa kỳ. EU đưa ra những quy định kê khai hàm lượng hoá chất trong sản phẩm dệt may nhập khẩu vào EU (REACH) cũng đang gây ra nhiều khó khăn tốn kém cho các DN.

   3. Chiến lược phát triển ngành dệt may trong giai đoạn 2011-2020 :

   3.1/  Quan điểm chiến lược :

   - Dệt may là ngành công nghiệp xuất khẩu chủ lực, tạo nhiều việc làm và giải quyết các vấn đề xã hội, cần được ưu tiên phát triển theo hướng đẩy nhanh việc hiện đại hoá, đảm bảo tăng trưởng nhanh, ổn định, bền vững và hiệu quả.

   - Phát triển dệt may phải đặt trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập và hợp tác quốc tế, tiếp nhận nhanh làn song chuyển dịch sản xuất dệt may từ các nước phát triển và các nước công nghiệp mới. Hết sức chú ý tăng cường mối liên kết hợp tác với các tập đoàn phân phối, bán lẻ lớn trên thế giới nhằm ổn định khách hàng, thị trường và từng bước tham gia vào các chuỗi liên kết của họ. Liên kết với các nhà sản xuất và cung ứng nguyên phụ liệu, liên kết tiêu thụ sản phẩm.

   - Phát triển dệt may theo hướng chuyên môn hoá và hợp tác hoá, đa dạng hoá qui mô và loại hình doanh nghiệp. Đẩy mạnh việc cổ phần hoá các DN dệt may thuộc sở hữu Nhà nước; huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển với sự phân công và hợp tác hợp lý.

   - Xây dựng Việt Nam trở thành trung tâm thời trang của khu vực trong mối liên kết đa ngành Thương mại- Văn hoá-Du lịch-Sản xuất thời trang.

   - Phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng là điều kiện then chốt cho sự phát triển bền vững của ngành dệt may Việt Nam.

   - Phát triển dệt may phải gắn với trách nhiệm xã hội, bảo vệ người tiêu dùng và bảo vệ môi trường.

   3.2/ Mục tiêu chiến lược   

a. Mục tiêu chung : Phát triển dệt may trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn và xuất khẩu; thoả mãn ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc khu vực và quốc tế.

b. Mục tiêu cụ thể :

               Chỉ tiêu

   Giai đoạn 2007-2010

     Giai đoạn 2011-2020

- Tăng trưởng sản xuất công nghiệp

         16-18%

            12-14%

- Tăng trưởng xuất khẩu hàng năm

            20%

                15%

     Các chỉ tiêu chủ yếu trong chiến lược phát triển dệt may giai đoạn 2007-2010 và giai đoạn 2011-2020 như sau :

         Chỉ tiêu

   Đv tính

Thực hiện 2009

Dự kiến 2010

Mục tiêu 2015

Mục tiêu 2020

1. Doanh thu

   Tỉ USD

   12 tỉ

   14 tỉ

18-21

27-30

- Xuất khẩu

   Tỉ USD

    9,068

   11

14-16

20-22

2. Sử dụng lao động

Tr. người

    2,0

   2,0

   3,5

   4,5

3. Sản phẩm chính











- Bông xơ

     tấn

    3.500

    3.500

  40.000

  45.000

- Sợi tổng hợp

   1000 tấn

     180

    180

     400

     600

- Sợi

   1000 tấn

     480

    514

     500

     650

- Vải

   Triệu m2

     1087

    1100

   1500

   2000

- SP may

   Triệu SP

     2600

    2800

   3000

   4000

   4. Đánh giá cơ hội và giải pháp phát triển ngành trong những năm tới :

   4.1/ Mặc dù chịu nhiều tác động bất lợi từ cuộc khủng hoảng thế giới và biến động lao động, chi phí lao động tăng nhanh, cơ sở hạ tầng và ngành công nghiệp phụ trợ còn kém phát triển…nhưng nhìn chung, ngành dệt may Việt Nam vẫn duy trì được những lợi thế nhất định so với các nước sản xuất và xuất khẩu chủ chốt khác.

   - Lực lượng lao động tương đối đông, chi phí lao động còn “tương đối thấp” so với 1 số nước sản xuất khác. Lao động dễ đào tạo, tay nghề khéo, có khả năng làm được các sản phẩm có độ phức tạp cao.

   - Phần lớn trang thiết bị may đã được đổi mới, hiện đại. Một số DN Việt Nam và FDI có quy mô sản xuất lớn, quản lý hiệu quả, có quan hệ chặt chẽ với nhiều nhà nhập khẩu, bán lẻ nước ngoài, đã bước đầu tham gia vào các chuỗi cung ứng. Nhiều DN được cấp các chứng chỉ về quản lý, môi trường, đáp ứng các tiêu chuẩn lao động thế giới.

   - Việt Nam gần nguồn nguyên phụ liệu dệt may thế giới (Trung quốc, Hàn quốc, Đài loan), có khả năng giao hàng nhanh. Có thị trường nội địa rộng lớn.

   - Việt Nam vẫn được coi là điểm đến an toàn của giới đầu tư, làm ăn quốc tế.

Điểm yếu : - Ngành công nghiệp phụ trợ kém phát triển, 70% nguyên phụ liệu vẫn phải dựa vào nhập khẩu từ nước ngoài. Phương thức sản xuất kinh doanh không tiến bộ nhiều, thậm chí còn thụt lùi so với nhiều nước. Tỷ lệ gia công CMT còn cao. Thiếu khả năng cung cấp trọn gói.

   - Môi trường cạnh tranh quốc gia còn chậm được cải thiện, thủ tục chậm và phiền hà, nhiều chi phí còn cao so với khu vực và quốc tế.

   - Thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, khả năng thiết kế thời trang, phát triển sản phẩm, kỹ năng giao dịch, tiếp thị, ngoại ngữ còn nhiều hạn chế và chậm được cải thiện.

   - Quan hệ lao động diễn biến phức tạp, chi phí lao động tăng nhanh, biến động lao động khá lớn 20-30%/năm dẫn đến chất lượng lao động giảm sút, khó tuyển lao động.

     Tuy vậy, với cơ hội thị trường tiêu thụ đang dần hồi phục, và với những lợi thế trên, ngành dệt may Việt Nam vẫn duy trì được khả năng cạnh tranh thêm mộtsố năm nữa.

   4.2/ Giải pháp phát triển ngành :

   - Phát triển công nghiệp dệt may theo hướng “Chất lượng, thời trang, trách nhiệm xã hội và thân thiện với môi trường”.

   - Tiếp tục chuyển dịch sản xuất, các dự án dệt nhuộm ô nhiễm vào các khu công nghiệp tập trung có hệ thống xử lý nước thải, các dự án may về các vùng nông thôn, thị tứ nhằm tận dụng nguồn lao động tại chỗ và ổn định nguồn lao động. Chú trọng liên kết và từng bước nâng cấp các DN vệ tinh nhằm nâng cao năng lực và đảm bảo linh hoạt trong sản xuất cho DN.

   - Tái cơ cấu về chất lượng và đẳng cấp sản phẩm

     Thời gian          Chất lượng thấp    Trung bình       Trung cao        Cao cấp

      2010                      60%                     30%                  10%                  0%

      2015                      50                         30                     18                     2

      2020                      40                         30                     25                     5    - Tăng cường xúc tiến kêu gọi đầu tư vào sản xuất nguyên liệu, in nhuộm hoàn tất vải nhằm từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hoá và khả năng chủ động về nguyên liệu cho DN, chuyển dịch phương thức sản xuất từ gia công CMT sang FOB và ODM, từng bước hình thành và phát triển các chuỗi cung ứng dệt may. Xây dựng 6 khu công nghiệp dệt nhuộm tại Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Đà Nẵng, Đồng Nai và Trà Vinh.

       Thời gian                    Gia công CMT       FOB              ODM  

       2010                              60%                      38%                2%

       2015                              50                          40                  10 

       2020                              30                          50                   20

 

 - Quan tâm xử lý tốt vấn đề lao động bằng các giải pháp đồng bộ, linh hoạt như : xây dựng bộ quy tắc ứng xử của doanh nghiệp phù hợp các qui định quốc tế và pháp luật Việt Nam nhằm thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, ký và thực hiện thoả ước lao động tập thể, đảm bảo phúc lợi cho người lao động đi đôi với việc áp dụng các giải pháp công nghệ, quản lý, đầu tư máy móc chuyên dùng, từng bước nghiên cứu áp dụng “tự động hoá” trong dây chuyền may, giảm số lao động trong từng chuyền nhằm nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh, đảm bảo sự phát triển bền vững, lâu dài cho DN.

   - Đẩy mạnh chương trình Thời trang hoá ngành dệt may đi đôi với xây dựng thương hiệu thời trang.

   - Tập trung đào tạo nguồn nhân lực cấp trung và cao cấp theo các chuyên ngành công nghệ, quản lý sản xuất, thiết kế sản phẩm và tiếp thị thời trang.                                                                       




     BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG

NHIỆM KỲ III VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG NHIỆM KỲ IV

CỦA HIỆP HỘI DỆT MAY VIỆT NAM



     Trong những năm qua, mặc dù tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động, đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính thế giới trong 2 năm 2008-2009 đã đẩy ngành dệt may của nhiều nước vào hoàn cảnh khó khăn, nhiều nhà máy bị đóng cửa, hàng triệu lao động bị thất nghiệp, kinh doanh đình đốn, kim ngạch xuất khẩu giảm sút mạnh. Mặc dù cũng gặp nhiều khó khăn, chao đảo trong thời kỳ đầu khủng hoảng nhưng nhìn chung, ngành dệt may Việt nam đã đứng vững trong thử thách và tiếp tục phát triển. Ngoài nỗ lực của các DN, sự chỉ đạo và hỗ trợ của Chính phủ thông qua các giải pháp kích cầu, Hiệp hội đã phát huy tốt vai trò cầu nối của mình, đồng hành cùng các DN vượt qua khó khăn và phát triển. Báo cáo này đề cập đến các mặt hoạt động của Hiệp hội trong giai đoạn vừa qua

   1. Thực hiện chức năng đại diện cộng đồng doanh nghiệp và cầu nối giữa các DN với các cơ quan Chính phủ: Trong những năm qua, Hiệp hội luôn bám sát những vấn đề nóng hổi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN, những nguyện vọng, khó khăn, thắc mắc trăn trở… của DN để kịp thời tập hợp và phản ánh với các cơ quan Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn, tạo môi trường thuận lợi cho DN sản xuất kinh doanh. Cụ thể :

   - Hiệp hội đã phối hợp tốt với Bộ Công thương, tư vấn và các hiệp hội nhập khẩu, tiêu dùng, các nhà nhập khẩu, bán lẻ Hoa kỳ và các DN để vừa vận động hành lang, vừa đấu tranh mạnh mẽ đối với cơ chế của Hoa kỳ “Giám sát hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam và tự khởi động điều tra chống bán phá giá đối với hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam”. Chính vì vậy, qua 3 lần công bố kết quả giám sát, phía DOC Hoa Kỳ đều phải công nhận “ Việt Nam không bán phá giá vào Hoa Kỳ”. Ở trong nước, mặc dù dệt may là ngành xuất khẩu hàng đầu với mức kim ngạch cao hơn nhiều so với các ngành khác như hải sản, da giày…nhưng cho đến nay, ngành vẫn tránh được các vụ kiện chống bán phá giá của nước ngoài.

   - Hiệp hội đã phối hợp chặt chẽ với các DN, vừa vận động các cơ quan ủng hộ vừa đấu tranh với hải quan đối với định mức tiêu hao vải 3% trong gia công. Kết quả là đã có được sự chấp thuận của Chính phủ để Bộ Tài chính ra văn bản qui định về cách tính thuế đối với 3% tiêu hao, làm cơ sở pháp lý để cơ quan hải quan huỷ bỏ việc tính thuế đối với phần định mức này, giúp các DN giảm được hàng tỷ đồng tiền thuế nhập khẩu.

   - Trong năm 2009, Hiệp hội đã tích cực vận động các cơ quan Chính phủ đưa ra các giải pháp giúp các DN tháo gỡ khó khăn trong khủng hoảng kinh tế như hỗ trợ lãi suất, giảm thuế TNDN, tăng cường XTTM…Nhờ gói kích thích kinh tế, nhiều DN đã vượt qua được khó khăn, duy trì được sản xuất kinh doanh, đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động

   - Trong 3 năm 2008-2010, Chủ tịch Hiệp hội tham gia vào Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ (Đề án 30), cùng với bộ máy giúp việc của văn phòng Hiệp hội và một số DN làm tốt vai trò tham vấn của ngành/lĩnh vực tư nhân vào công cuộc cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ. Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực Hải quan-XNK là nhóm thủ tục được Hiệp hội ưu tiên lựa chọn tham gia rà soát, kiến nghị cải cách. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này Hiệp hội đã thuê tư vấn, tổ chức nhiều cuộc hội thảo, khảo sát các DN trong ngành, gặp gỡ với hải quan, các cơ quan quản lý Nhà nước, tham gia vào Tổ công tác Hải quan-XNK, phối hợp với các Hiệp hội ngành, các DN thuộc ngành khác, các tổ chức trong nước, ngoài nước nhằm xác định và đưa ra các kiến nghị sửa đổi, bãi bỏ các thủ tục hành chính không cần thiết, đang gây cản trở, khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN.

   - Để đẩy mạnh xuất khẩu và hạn chế nhập siêu, Hiệp hội đã thường xuyên trao đổi với các chi hội/DN và kịp thời báo cáo, phản ánh những vướng mắc phát sinh trong sản xuất kinh doanh của các DN cho Bộ Công thương trong các cuộc họp giao ban XNK hàng tháng như lãi suất vay, lao động, phí ùn tắc tại cảng để Bộ báo cáo Chính phủ và phối hợp với các bộ, ngành tháo gỡ khó khăn cho DN.

   - Hiệp hội còn thay mặt cho ngành/DN tham gia đóng góp nhiều ý kiến đối với các cơ quan bộ ngành về các hiệp định thương mại, các quy định, thông tư của Chính phủ nhằm bảo vệ quyền lợi cho các DN.

   2. Thực hiện chức năng đại diện cho cộng đồng DN tham gia vào các tổ chức ngành nghề quốc tế như Tổ chức các nước xuất khẩu dệt may quốc tế ITCB, Liên đoàn may mặc thế giới IAF, Liên đoàn dệt may Asean AFTEX, Liên đoàn may mặc châu Á AAF, Liên đoàn thời trang châu Á AFF. Hiệp hội đã thay mặt cho ngành tham dự nhiều cuộc họp của các tổ chức trên, góp phần giới thiệu ngành dệt may Việt Nam cho bạn bè quốc tế, trao đổi đưa ra các giải pháp nhằm tạo thuận lợi cho giao thương dệt may quốc tế, tăng cường mối quan hệ hợp tác khu vực và quốc tế. Cụ thể :

   - Tăng cường sự hợp tác trong hiệp hội dệt may Asean trong việc hội nhập khối, thuận lợi hoá thương mại, xây dựng và phát triển 14 chuỗi cung ứng dệt may trong khu vực và kết nối với 8 khách hàng lớn của EU/Hoa kỳ; Từng bước tiêu chuẩn hoá đào tạo và lao động trong khối, xây dựng trang web và Portal mua bán trong khối.

   - Tổ chức thành công sự kiện Việt Nam gia nhập và trở thành thành viên thứ 6 của Liên đoàn thời trang châu Á gồm các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan và Việt Nam nhằm trao đổi, giao lưu về xu thế thời trang khu vực và thế giới, trao đổi thông tin, phối hợp đào tạo, tham gia các cuộc thi trình diễn thời trang châu Á. Việc tham gia này giúp Việt Nam tiếp cận được ngành thời trang châu Á, từng bước thực hiện chiến lược “Thời trang hoá ngành dệt may”.

   - Hợp tác và tranh thủ nguồn hỗ trợ của các tổ chức quốc tế triển khai thực hiện các Dự án như trách nhiệm xã hội của DN, dự án Mutrap I, II, III về đào tạo tăng năng lực cạnh tranh cho các DN, giải quyết các vấn đề lao động trong ngành dệt may, phát triển cụm DN vừa và nhỏ.

   3. Công tác xúc tiến thương mại: Là đầu mối XTTM của ngành, trong những năm qua, Hiệp hội đã xây dựng và phối hợp với Tập đoàn dệt may Việt Nam triển khai nhiều chương trình XTTM cho các DN trong ngành. Trong đó có những chương trình quan trọng như :

   - Tổ chức đoàn DN dệt may tham dự Hội chợ dệt may chuyên ngành tại Las Vegas, Hoa kỳ để giới thiệu sản phẩm, gặp gỡ khách hàng truyền thống và khách hàng mới, tìm hiểu xu thế tiêu dùng cũng như các chính sách thương mại liên quan tại thị trường này.

   - Phối hợp với Tập đoàn tổ chức thường xuyên các Hội chợ thời trang VIFF tại TP Hồ chí Minh và Hà Nội, thu hút hàng trăm DN hàng đầu trong ngành tham gia, thu hút hàng trăm khách hàng ngoài nước đến tham quan giao dịch và hàng vạn người tiêu dùng trong nước đến mua hàng, giúp nhiều DN quảng bá thương hiệu, đẩy mạnh bán hàng.

   - Phối hợp với Tập đoàn xây dựng và triển khai Chương trình quảng bá hình ảnh ngành dệt may Việt Nam “Chất lượng, thời trang, trách nhiệm xã hội và thân thiện với môi trường”, góp phần tôn vinh ngành và các DN, đem lại những hiệu quả nhất định.

   - Phối hợp với Tập đoàn, Hiệp hội nước ngoài (Hiệp hội Dệt kim Tây Ban Nha), các Thương vụ Việt Nam tại các nước (Tây Ban Nha, Pháp, Chi Lê, Achentina…  tổ chức các chương trình khảo sát thị trường nước ngoài và kêu gọi đầu tư tại Nhật bản, Hàn quốc, Tây Ban Nha, Pháp, châu Mỹ la tinh, châu Phi để tìm hiểu thị trường; tham gia các hội chợ chuyên ngành tại châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan; Tổ chức các buổi giao lưu gặp gỡ khách hàng nước ngoài...

   - Thu xếp cho hàng trăm khách hàng nước ngoài vào Việt Nam làm việc với Hiệp hội, Tập đoàn, thăm và làm việc với các DN để tìm hiểu sản phẩm, giao dịch ký hợp đồng.

     Tuy có nhiều cố gắng, nhưng do nguồn kinh phí có hạn, thủ tục còn chưa thông thoáng, việc thanh toán quyết toán chương trình mất nhiều thời gian nên chưa thực sự hấp dẫn các DN lớn tham gia, việc chuẩn bị của nhiều DN chưa thực sự tốt, thiếu cán bộ giao dịch chuyên nghiệp. Vì vậy, có thể nói hiệu quả của 1 số chương trình chưa cao, chưa đáp ứng được kỳ vọng của ngành và DN. Nhưng đó là những sự tập dượt cần thiết để ngành và các DN thấy được điểm yếu, điểm mạnh của mình, từ đó từng bước cải thiện nâng cao chất lượng XTTM.

   4. Công tác tổ chức và phát triển hội viên: Cũng như các ngành nghề khác, FDI đã và đang đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất khẩu của ngành dệt may với tỷ trọng 61%. Đón bắt được xu thế này, tại Đại hội III của Hiệp hội, Hiệp hội đã đề cao vai trò của FDI và mong muốn có sự tham gia tích cực hơn của các DN FDI vào hoạt động của ngành. Rất tiếc do những quy định ngặt nghèo của các cơ quan quản lý Nhà nước, các vấn đề trên vẫn chưa được tháo gỡ và những kiến nghị sửa đổi điều lệ của Hiệp hội vẫn chưa được chấp nhận. Tuy vậy, Hiệp hội đã và đang tích cực hoạt động, phát huy tốt vai trò là cầu nối giữa các DN với các cơ quan Nhà nước, thu hút các DN tham gia, trở thành 1 trong những hiệp hội hoạt động hiệu quả nhất trong ngành kinh tế Việt Nam.

     Về hội viên, trong nhiệm kỳ vừa qua, Hiệp hội đã kết nạp được thêm 65 hội viên mới, đưa số thành viên chính thức của hiệp hội lên trên 700 hội viên gồm 400 hội viên chính thức và trên 300 hội viên liên kết và thông tấn, chiếm 1 tỷ trọng quan trọng các DN trong ngành dệt may.  Hiệp hội hiện có 4 hiệp hội trực thuộc gồm Hiệp hội sợi Việt Nam ( đang hoàn tất thủ tục sát nhập thành hiệp hội bông sợi Việt Nam), Hiệp hội dệt may thêu đan TP Hồ chí Minh, Hiệp hội dệt may Bình Dương, Hiệp hội dệt may Hà Nội. Hiện đang xúc tiến việc thành lập Hiệp hội thời trang Việt Nam và sắp tới sẽ là các hiệp hội chuyên sâu về ngành khác.

     Về phía chi hội, hiện hiệp hội có 15 chi hội phân bổ theo các địa bàn và góp phần quan trọng vào việc triển khai các nghị quyết của hiệp hội tới các DN, phản ánh kịp thời các vướng mắc trong sản xuất kinh doanh của các DN và từ đó đưa ra các kiến nghị cần thiết lên Văn phòng Hiệp hội để chuyển tới các cơ quan Nhà nước; hỗ trợ nhau kinh nghiệm quản lý, sản xuất, san xẻ đơn hàng những lúc khó khăn. Đặc biệt trong cuộc khủng hoảng vừa qua, 1 số DN lớn trong ngành đã nêu cao tinh thần nhường cơm xẻ áo, san xẻ đơn hàng cho các DN vừa và nhỏ, giúp nhau vượt qua khó khăn. Một số DN còn hào hiệp hỗ trợ chi phí cho các hoạt động của Hiệp hội, nhiệt tình tham gia các cuộc bình chọn DN tiêu biểu trong ngành dệt may hàng năm. Hiệp hội đánh giá cao sự giúp đỡ của Tập đoàn dệt may Việt Nam trong việc cung cấp miễn phí Văn phòng cho Hiệp hội, hỗ trợ về mặt chuyên môn, nhân lực và các công việc khác trong suốt giai đoạn vừa qua.

     Tuy nhiên, trong hoạt động của hiệp hội cũng còn bộc lộ nhiều vấn đề. Một số chi hội ít hoạt động hoặc hoạt động mang tính hình thức, chưa đủ sức thu hút và hấp dẫn hội viên. Công tác phản ánh thông tin từ các DN/chi hội lên BCH còn chưa thường xuyên, chưa đầy đủ. Một số DN còn không tham gia sinh hoạt, không đóng hội phí, buộc hiệp hội phải xoá tên. Chúng tôi hiểu rằng, hoạt động của hiệp hội có được duy trì và phát triển hay không phải nhờ có sự ủng hộ của hội viênvà ngược lại Hiệp hội cũng phải nâng cao hơn nữa vai trò của mình, đem lại những lợi ích thiết thực cho các hội viên.

  5. Công tác lao động: đang là vấn đề nóng bỏng nhất của ngành. Từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực dệt may và các ngành khác đã tăng lên nhanh chóng, dẫn đến việc tranh giành và thiếu hụt lao động xảy ra thường xuyên. Trong năm 2007, trên 200 cuộc đình công diễn ra không những đã gây ra nhiều thiệt hại cho các DN mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.

     Được sự chỉ đạo của các cơ quan Chính phủ, Hiệp hội đã phối hợp với VCCI và công đoàn ngành dệt may tổ chức nhiều buổi hội thảo, khảo sát đánh giá, trao đổi ý kiến để từng bước hoàn thiện “Thoả ước lao động ngành dệt may” và đã được ký kết chính thức vào cuối tháng 4/2010, sau đó triển khai tới các DN. Đến nay đã có 69 đơn vị trong ngành ký Thoả ước này, nhiều đơn vị khác đang nghiên cứu. Việc ký kết này đã bước đầu mang lại kết quả tốt cho các DN. Tuy nhiên, việc đáp ứng của các DN FDI và cổ phần/tư nhân còn nhiều hạn chế, do thiếu tổ chức công đoàn hoặc DN nhận thức chưa đầy đủ. Rất mong các DN thực sự quan tâm đến vấn đề này vì lao động là vấn đề sống còn của DN và đây được coi là cơ sở để cả người sử dụng lao động và người lao động nâng cao nhận thức về quyền lợi và trách nhiệm của mình, tăng cường hợp tác vì sự phát triển của DN và quyền lợi hài hoà của DN và người lao động.

   6. Hoạt động của Văn phòng và các công tác khác:

   - Từng bước hoàn thiện trang web của hiệp hội, cập nhật thông tin thường xuyên và phong phú hơn. Tháng 9 vừa qua đã ra được bản tin tháng với nhiều thông tin tốt và cần được tiếp tục phát huy trong những tháng tới.

   - Công tác tài chính: Nguồn tài chính chi cho hoạt động của Hiệp hội chủ yếu dựa vào hội phí từ các hội viên. Trong năm qua, ghi nhận nỗ lực và đánh giá cao hoạt động của hiệp hội, các DN đã tăng mức đóng góp và mỗi năm hiệp hội thu được khoảng 1-1,5 tỷ đồng. Với mức thu hội phí như hiện nay thì chỉ đủ duy trì bộ máy và mức hoạt động như hiện nay. Trong khi đánh giá cao sự giúp đỡ của tập đoàn thì hiệp hội cũng phải từng bước tự chủ về văn phòng và hoạt động của mình. Ngoài ra, trong tình hình thị trường thế giới có nhiều biến động, rủi ro như hiện nay, hiệp hội cũng cần cân nhắc và chuẩn bị sẵn các phương án xấu nhất có thể xảy ra do các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp và các rào cản kỹ thuật thương mại khác gây ra. Do vậy, bài học thành công trong giai đoạn vừa qua là hợp tác và thuê tư vấn nước ngoài nhằm cung cấp thường xuyên và kịp thời các động thái trên thị trường để có giải pháp đối phó kịp thời. (Chi tiết thu chi và phương án tài chính sẽ được trình bày tại báo cáo riêng kèm theo).

   - Công tác thi đua: Hàng năm Hiệp hội phối hợp với Thời báo kinh tế Sài gòn tổ chức các cuộc bình chọn “ Doanh nghiệp tiêu biểu trong ngành dệt may và da giày Việt Nam”, với các tiêu chí ngày càng cụ thể, thiết thực và nhận được sự ủng hộ và tham gia tích cực của các DN, kịp thời động viên các DN tiêu biểu, xuất sắc và nhận được sự quan tâm khích lệ của lãnh đạo Đảng và Nhà nước.

   - Công tác xã hội: Ngoài việc đóng góp to lớn vào phát triển kinh tế và xuất khẩu của đất nước, hội viên hiệp hội còn quan tâm đến các hoạt động xã hội như đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng hàng trăm bà mẹ Việt Nam anh hùng, xây dựng hàng trăm nhà tình nghĩa, trường học, trạm xá; tham gia đóng góp hàng hoá, tiền bạc cứu trợ đồng bào các tỉnh bị thiên tai... Riêng đợt quyên góp cuối năm 2007, các DN đã hỗ trợ trên 4000 suất quà cho nhân dân 4 tỉnh bị thiên tai và trong đợt lũ lụt vừa qua, các DN đã quyên góp 1,5 tỷ đồng hàng hoá cho các tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Nghệ an….Hỗ trợ đồng bào vùng sâu, vùng xa, xây dựng nhà máy may Sơn Động, Bắc Giang, Ủng hộ các vùng hải đảo bằng chương trình “Các DN dệt may đồng hành cùng đồng bào biển đảo của Tổ quốc”……

   7. Công tác điều hành của Ban chấp hành:

   - Do nguồn kinh phí có hạn nên hiệp hội chỉ duy trì được bộ máy văn phòng hạn chế ( 14 người tại cả VP Hà nội và TPHCM), phần lớn lãnh đạo Hiệp hội hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, rất bận công tác chuyên môn nên ít trực tiếp tham gia vào công tác chỉ đạo điều hành của hiệp hội. Hoạt động của các Uỷ ban chuyên ngành của Hiệp hội cũng rất hạn chế nên chưa khai thác, tận dụng được trí tuệ lãnh đạo tập thể của Ban chấp hành. Cán bộ văn phòng hiệp hội còn yếu và thiếu kinh nghiệm thực tế, thu nhập thấp cũng chưa đủ sức hấp dẫn những cán bộ có năng lực tham gia nên phần nào cũng hạn chế đến kết quả và chất lượng hoạt động của hiệp hội.

     Từ những phân tích đánh giá hoạt động của hiệp hội trong nhiệm kỳ 3, hiệp hội dệt may xin nêu dự thảo Phương hướng, Nội dung, Chương trình hoạt động của Nhiệm kỳ 4 như sau




PHẦN II:       PHƯƠNG HƯỚNG, NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH

HOẠT ĐỘNG NHIỆM KỲ 4 CỦA HIỆP HỘI DỆT MAY VIỆT NAM



     Nhiệm kỳ 4 (2011-2015) đánh dấu giai đoạn phát triển mới của ngành với những thuận lợi mới về thị trường và các cơ hội mở cửa thị trường do TPP và các FTA mang lại nhưng để đảm bảo sự phát triển ổn định và vững chắc cho ngành và các DN, hiệp hội đưa ra phương hướng và chương trình hoạt động như sau :

   1. Tiếp tục nâng cao và phát huy vai trò đại diện cho cộng đồng DN, bám sát hơn tình hình sản xuất kinh doanh, khó khăn thuận lợi của DN để báo cáo các cơ quan bộ ngành xây dựng và đưa ra các chính sách thuận lợi, tiếp tục cải cách hành chính nhằm tạo môi trường thông thoáng hơn cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

   2. Phối hợp với VCCI, Công đoàn ngành dệt may và các cơ quan bộ ngành tiếp tục hoàn thiện và triển khai thực hiện Thoả ước lao động tập thể tới các DN, đặc biệt là các DN FDI và DN cổ phần, TNHH, tư nhân, xây dựng cơ chế tư vấn và giải quyết tranh chấp các cấp nhằm giúp các DN từng bước ổn định nguồn lao động, giảm thiểu các tranh chấp xảy ra, lành mạnh hoá môi trường lao động trong ngành dệt may. Đây phải được coi là mục tiêu ưu tiên của ngành và DN.

   3. Tăng cường và hoàn thiện hơn nữa công tác thông tin từ hiệp hội đến các chi hội, các DN và ngược lại, làm tốt hơn nữa vai trò là cầu nối giữa các DN với các cơ quan quản lý Nhà nước để kịp thời xử lý các vướng mắc phát sinh trong sản xuất kinh doanh, giúp các DN tiết giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh.

   4. Phối hợp với các DN đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, tăng cường quảng bá hình ảnh ngành dệt may Việt nam “Chất lượng, Thời trang, Trách nhiệm xã hội và Thân thiện với môi trường” đến các bạn hàng trong và ngoài nước, giúp các DN từng bước xây dựng mối quan hệ chiến lược, lâu dài với các tập đoàn nhập khẩu, phân phối và bán lẻ quốc tế trong các chuỗi cung ứng dệt may quốc tế. Tăng cường hội nhập khu vực và quốc tế.

   5. Tăng cường hoàn thiện công tác tổ chức, từ bộ máy của ban chấp hành, khu vực, các uỷ ban chuyên trách đến văn phòng hiệp hội theo hướng chuyên nghiệp hơn. Chú trọng xây dựng các uỷ ban chuyên ngành gồm :

   - Uỷ ban tư vấn về chính sách thương mại.

   - Uỷ ban về Quan hệ lao động và đào tạo nguồn nhân lực

   - Uỷ ban phát triển thời trang và thương hiệu

   - Uỷ ban đầu tư nước ngoài

   - Uỷ ban Đổi mới công nghệ và môi trường

  6.  Đổi mới phương thức hoạt động của Hiệp hội, phát triển hội viên, lấy mục tiêu vì lợi ích của các Hội viên làm trọng tâm cho hoạt động của văn phòng Hiệp hội. Cụ thể : nghiên cứu và xây dựng các Nhóm Doanh nghiệp trọng điểm theo lĩnh vực, địa bàn ( tối đa từ 15-20 DN/nhóm), nhằm duy trì sinh hoạt, hoạt động theo nhóm, nắm bắt các vấn đề mà các DN trong nhóm cùng quan tâm và tìm ra các giải pháp giúp các DN trong nhóm cùng giải quyết các khó khăn, tạo những cơ hội thuận lợi, các điều kiện cần thiết đảm bảo sự phát triển chung. Từ đó tạo ra sự đồng thuận tích cực cũng như thu hút, lan toả ảnh hưởng của Hiệp hội, phát triển thêm các DN trong ngành cũng như các ngành liên quan tham gia vào Hiệp hội, phát triển Hội viên, tăng sức mạnh của Hiệp hội. Sự tham gia của văn phòng Hiệp hội vào các nhóm trọng điểm là vai trò Tư vấn, nhằm hướng cho hoạt động của các nhóm theo đúng các mục tiêu mà nhóm hướng tới, vì sự phát triển thiết thực của từng thành viên nhóm cũng như của cả nhóm.

   7. Nghiên cứu tổ chức Bộ máy thực hiện công tác tư vấn trên cơ sở có thu (bắt đầu với sự đồng thuận đóng góp của các DN trong ngành), tiến tới phát triển thành một Trung tâm hạch toán độc lập nhằm tạo nguồn thu cho Hiệp hội, làm cơ sở cho việc thực hiện các nhiệm vụ, vai trò của Hiệp hội như

   - Vấn đề lao động của ngành may; vấn đề tự động hoá trong ngành may nhằm tìm ra các giải pháp cho sức ép về lao động, thu nhập, năng suất; Tổ chức các “Cụm” doanh nghiệp hỗ trợ lẫn nhau và cùng phát triển; Công tác đào tạo nguồn nhân lực trung, cao cho các DN;

   - Tái cấu trúc cho ngành dệt may: địa điểm sản xuất, phân tán đi đâu, lập bản đồ Dêt may theo đánh giá nguồn lao động, cơ sở hạ tầng như giao thông. Từ đó xác định cỡ DN nên có là bao nhiêu ở từng vùng;  Nghiên cứu khả năng chuyển dịch về các vùng sâu, vùng xa đến ngưỡng nào thì DN còn có hiệu quả…

   - Tái cấu trúc phương pháp gia công : CM – FOB – ODM : xác định cơ cấu hiện tại cũng như lộ trình phát triển trong các năm tiếp theo, và các giải pháp cụ thể.

PHẦN III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

     Để giúp ngành và các DN nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo sự phát triển bền vững và lâu dài và hội nhập thắng lợi vào khu vực và quốc tế, Hiệp hội dệt may Việt Nam xin kiến nghị Chính phủ những nội dung sau :

   1. Tăng cường khuyến khích đầu tư và kêu gọi đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực sản xuất xơ sợi, dệt nhuộm hoàn tất và sản xuất phụ liệu theo Chiến lược phát triển ngành công nghiệp phụ trợ.

   2. Có chính sách hỗ trợ di dời các cơ sở sản xuất ô nhiễm ra khỏi thành phố vào các khu công nghiệp tập trung, hỗ trợ xây dựng hệ thống xử lý nước thải để đủ sức hấp dẫn và thu hút các DN nước ngoài tăng cường đầu tư vào lĩnh vực dệt, nhuộm hoàn tất.

   3. Hỗ trợ ban đầu hoặc 1 phần việc xây dựng Trung tâm giao dịch nguyên phụ liệu dệt may và hệ thống kho ngoại quan phục vụ cho Trung tâm này.

   4. Hỗ trợ ban đầu cho Hiệp hội trụ sở làm việc để có bộ mặt khang trang hơn, tương xứng với vai trò và đóng góp của Hiệp hội.

                                        BAN CHẤP HÀNH

                              HIỆP HỘI DỆT MAY VIỆT NAM
Bao Cao Tong Ket Cong Tac Nhiem Ky Iii 2007 2010 Va Phuong Huong Hoat Dong Nhiem Ky Iv 2011 2015 Cua Hiep Hoi Det May Viet Nam
Bao Cao Tong Ket Cong Tac Nhiem Ky Iii 2007 2010 Va Phuong Huong Hoat Dong Nhiem Ky Iv 2011 2015 Cua Hiep Hoi Det May Viet Nam
Bao Cao Tong Ket Cong Tac Nhiem Ky Iii 2007 2010 Va Phuong Huong Hoat Dong Nhiem Ky Iv 2011 2015 Cua Hiep Hoi Det May Viet Nam
Tin khác
Mời Tham Dự Lớp Tập Huấn: “Kỹ Năng Thương Mại Điện Tử – Nghiên Cứu Thị Trường Qua Website”.
THAM GIA HỘI CHỢ “THÁNG KHUYẾN MẠI”
Triển Lãm Intertextile Hàng May Mặc, Vải Vóc Thượng Hải 2009(25/09/2009
Triển Lãm Máy May Juki Tại Tp.HCM Ngày 27-29/08/2008
Online 9
Lượt truy cập 245510
Copyright © 2012 Saigon3. All rights reserved. Designed & Developed by EMSVN